Chạm bạc là một nghề có từ lâu đời của người Dao đỏ ở xã Thái Học (Nguyên Bình) nói riêng và người Dao cả nước nói chung. Hiện, số người biết thành thạo kỹ thuật chế tác trang sức bằng bạc trong cộng đồng người Dao rất hiếm. Nhưng ở làng Phùng, xã Thái Học có ông Lý Dào Luồng vẫn miệt mài làm nghề và khát vọng được truyền dạy cho con cháu.

Ông Lý Dào Luồng, xã Thái Học (Nguyên Bình) kiểm tra sản phẩm vừa chế tác.
Theo lời giới thiệu của Chủ tịch UBND xã Thái Học, sau gần 1 giờ leo đường núi gập ghềnh đá tai mèo, chúng tôi đến nhà ông Lý Dào Luồng. Trong căn nhà xây hai tầng khang trang, tọa lạc giữa thung lũng bốn bề núi đá vôi, ông Luồng hào hứng kể: Bạc là đồ trang sức không thể thiếu đối với người Dao đỏ. Bạc được coi là vật làm đẹp cho phụ nữ, được dùng làm của hồi môn cho con gái khi về nhà chồng. Trong ngày cưới, con gái Dao đỏ ít nhất phải có một bộ trang sức bằng bạc, như: vòng cổ, vòng tay, xà tích, nhẫn... Dẫu đã ở 80 tuổi nhưng trông ông Luồng vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát lắm. Lấy củi nhóm lò và sửa soạn đồ nghề để thao tác thử vài kiểu cho chúng tôi xem, ông vừa giải thích từng công đoạn của nghề chạm bạc: Nghề chạm bạc phải tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt, bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu, nhiên liệu cho đến khi ra sản phẩm. Nguyên liệu chủ yếu từ bạc vụn (bạc trắng), bạc thỏi được mua về từ các nơi, như: Thông Nông, Hà Quảng, Thạch An... với giá hiện nay là 1 triệu 400 nghìn/1 lạng. Nguồn nhiên liệu cho việc chạm bạc là dùng than củi được đốt từ các loại gỗ tốt như cây nghiến. Dụng cụ nghề chạm bạc, gồm: Bễ thổi, kéo cắt, kìm vặn, panh gắp, búa đập, đục để đục hoa, bàn kéo sợi, đế gỗ, đe sắt, nồi đun. Theo kinh nghiệm, ông Luồng dùng nồi đun bạc bằng đất tự nặn chứ không dùng nồi bằng kim loại thì bạc sẽ không hao.
Khi công việc chuẩn bị nguyên, nhiên liệu đã xong, bắt đầu nhóm lò than, kéo bễ thổi cho gió vào lò, tạo cho nhiệt độ trong lò tăng lên, đồng thời điều chỉnh nhiệt độ trong lò. Bạc cho vào nồi đem lên lò đun chảy, sau đó đổ vào máng sắt (máng có độ dài khoảng 30cm, rộng 4cm), chờ cho bạc nguội thì tiến hành công đoạn chạm sản phẩm. Tuỳ theo từng loại sản phẩm mà dùng các kỹ thuật khác nhau để chạm, như chạm vòng cổ, chạm vòng tay, hoa tai, chạm hoa bạc, cúc bạc. Đối với các sản phẩm có kích thước nhỏ, nhiều hoạ tiết, hoa văn hình chìm, hình nổi tinh xảo, đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và nhẫn nại của nguời thợ. Hoa văn chạm trên các sản phẩm chủ yếu là các hình hoa lá, mặt trời. Nhẫn cũng là đồ trang sức của người Dao đỏ. Ngoài ra còn có quả lục lạc để đính trên mũ của trẻ em nam.
Trước đây, cuộc sống của gia đình ông Luồng gặp muôn vàn khó khăn. Gia đình đông người lại thiếu đất canh tác, hằng năm thiếu ăn từ 5-6 tháng. Qua nhiều năm suy ngẫm tìm lối thoát nghèo cho gia đình, ông đã tự mày mò học lấy nghề chạm bạc từ các đồ trang sức cũ để làm mẫu. Hơn 5 năm kiên trì mày mò, tự học, tự làm cùng với biết bao thất bại, hiện nay, ông đã trở thành một nghệ nhân có tay nghề giỏi, chế tác được nhiều sản phẩm bằng bạc truyền thống của người Dao. Các sản phẩm do ông làm ra đã được tiêu thụ tại các chợ huyện: Nguyên Bình, Hà Quảng, Bảo Lạc, Thông Nông..., bán với giá một đôi vòng cổ là 11 triệu đồng, một đôi vòng tay 3 triệu đồng, một bộ xà tích 5 triệu đồng. Theo ông Luồng, để làm được một đôi vòng cổ, người thợ lành nghề phải mất 4 ngày, với tiền công từ 900 nghìn -1 triệu đồng; 1 vòng tay làm trong 1 ngày, tiền công 150 nghìn đồng; 1 bộ xà tích cần 10 ngày, tiền công là 700 nghìn đồng. Để làm đủ bộ có vòng tay, xà tích, hoa ngực, hoa lưng, hoa tai, nhẫn, vòng cổ..., một người thợ lành nghề phải mất 1 tháng miệt mài mới hoàn thành. Tiếng lành đồn xa, nhiều người từ khắp các nơi đến tận nhà ông đặt hàng, hoặc đem bạc vụn đến để ông chế tác. Khoát tay chỉ ngôi nhà xây khang trang, ông vui vẻ: Đấy ngôi nhà này phần lớn cũng từ “tiếng đe, tiếng búa” mà ra đấy anh ạ! Ông còn cho biết, hiện ba người con trai, ba cháu trai của ông đã nối tiếp được nghề do ông truyền dạy và đã làm ra được các sản phẩm chạm khắc bạc.
Chia tay ông, chúng tôi thầm cảm phục một con người giàu nghị lực, với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự học lấy nghề để tạo ra các sản phẩm từ bạc, góp phần tăng thu nhập cho gia đình, từng bước cải thiện đời sống, vươn lên làm giàu chính đáng.
Mông Văn Bốn (Báo Cao Bằng)
| Next > |
|---|
- 25/01/2012 22:27 - Say mê chế tác đàn tính tẩu
- 25/01/2012 22:23 - Khơi dậy tình yêu ngôn ngữ Tày - Nùng
- 25/01/2012 22:18 - Người thầy thuốc của nhân dân
- 25/01/2012 21:53 - Cô dâu Tây trên mảnh đất biên cương
- 25/01/2012 20:36 - Gặp người nấu cơm cho Bác Hồ ở Pác Bó
- 13/05/2011 22:20 - Trên quê hương anh Kim Đồng - Kỳ cuối: Mãi mãi tuổi 14
- 09/05/2011 14:24 - Trên quê hương anh Kim Đồng - Kỳ 1: Người đội trưởng dũng cảm
- 29/04/2011 01:10 - Trung tá Đàm Thị Loan
- 28/02/2011 09:49 - Viết văn cùng cực như đi săn!
- 08/02/2011 12:46 - Bức thư để lại ấn tượng khó quên



















