Van hoa - Lich su - Du lich Cao Bang

Share |

Mối quan hệ dòng họ và Lễ cấp sắc của người Dao Tiền

Dân tộc Dao ở Cao Bằng gồm có Dao Đỏ và Dao Tiền, họ sống sen kẽ với các dân tộc Tày, Nùng, Mông... hoặc sống quần tụ riêng, tập trung ở một số huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Hà Quảng... Nhóm Dao tiền cư trú duy nhất ở huyện Nguyên Bình.

Phụ nữ dân tộc Dao Tiền. Ảnh: Báo Tuyên Quang

Hầu hết các nhóm Dao Tiền đều nhận là con cháu Bàn Hộ, theo truyền thuyết Bàn Hộ là thủ lĩnh người Dao, ông ta có nhiều vợ, con của mỗi người vợ lập thành nhóm riêng. 770 năm trước công nguyên, Bàn Hộ đã giúp người Hoa chống lại các rợ Tây Nhung, Bắc Địch khôi phục lại họ Chu, rời đô từ phía Tây sang phía Đông, gọi là nhà Đông Chu. Khi lên ngôi, vua đầu nhà Đông Chu là Bình Vương (770 - 719 TCN) hạ chiếu thưởng công cho Bàn Hồ - sau này người ta quen gọi là Bình Hoàng Khoán Điệp, nội dung ban cấp: “Nơi rừng xanh mây phủ, núi cao đầm rộng, đất đó nhà vua sẽ không quản, con cháu Bàn Hồ được làm ăn khai phá đời đời”.

Trong cuộc đời chinh chiến, có lần Bàn Hồ thua trận bị thương bất tỉnh giữa đồng cỏ. Giặc đánh hỏa công đốt cháy đồng cỏ. May Bàn Hồ có con chó rất tinh khôn luôn luôn bám sát chủ, thấy lửa cháy, chó lôi chân kéo chủ ra chỗ trống rồi chạy đầm xuống vũng nước về nằm lên người chủ. Khi Bàn Hồ hồi lại, thấy bốn bề tro tàn khói bụi, con chó đã chết cứng vì bị nóng và kiệt sức, ông ta rất thương con vật trung thành nói lớn “Ôi chó ơi! chính mày đã cứu ta, ta mang ơn mày hết đời này sang đời khác. Từ nay, người Dao không được ăn thịt chó, mà phải coi chó như một phần của thân ta”. Sau khi Bàn Hồ mất, người Dao suy tôn ông làm Bàn Vương và tục người Dao thờ cúng chó cũng từ đấy.

Người Dao không có chữ, đã dùng chữ Hán để Nôm Dao hóa bằng bốn hình thức: Viết nguyên chữ Hán đọc thành tiếng Dao; mượn âm Hán diễn đạt ý Dao; ghép hai chữ Hán thành tiếng người Dao; dùng các nét cơ bản chữ Hán tạo ra từ mới. Họ dùng chữ Nôm Dao để ghi lời dân ca của mình. Khi đọc ngâm gọi là Tề Dung, khi cất tiếng hát theo giai điệu cổ truyền gọi là Páo Dung.

Người Dao sống chủ yếu bằng nương rẫy. Song cũng có kinh nghiệm khai phá ruộng bậc thang, biết nhiều nghề thủ công như: Rèn, đúc, chế thuốc súng, đan lát, đồ mộc, làm giấy, làm pháo. Phụ nữ biết dệt vải, nhuộm chàm, chấm hoa văn bằng sáp ong, nhất là thêu thùa rất khéo.

Mỗi dòng họ có cách thức nghi lễ cúng tổ tiên, ma chay, cách chọn đất làm nhà cửa riêng. Mỗi dòng tộc có một tộc trưởng hay còn gọi là trưởng họ. Nhà trưởng họ cũng là nơi đặt bàn thờ chung của cả họ, trưởng họ có nhiệm vụ chủ trì làm lễ cấp sắc (lễ quá tang) cho các thành viên trong dòng tộc, làm ma chay, làm nhà mới, cưới xin, chia tài sản, dàn xếp xích mích... vai trò của trưởng họ khá quan trọng, có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội của dân tộc Dao.

Về gia đình người Dao: Là gia đình nhỏ phụ hệ mà tính chất được thể hiện trong nhiều tập tục như các tộc người khác. Trong các gia đình nhỏ phụ quyền, người ta quý trọng con trai hơn con gái, có nhiều con trai là điều mong ước của nhiều gia đình. Người con trai không những cần có khả năng lao động giỏi, có đạo đức tốt mà còn cần phải biết cúng khấn tổ tiên. Người con gái phải biết dệt vải, thêu thùa. Nhưng để trở thành một người lớn thực sự, có thể cúng tổ tiên, tham gia công việc họ hàng làng bản, người con trai còn phải thay tên cũ, đặt tên mới bằng một nghi lễ, đó là lễ cấp sắc, hay còn gọi là “Quá tang”. Khi phân chia tài sản, người con cả thường được phần hơn, con gái cũng được chia một phần nhỏ để làm vốn.

Chế độ hôn nhân ngày xưa mang tính chất mua bán, thịt rượu, bạc trắng là những vật định giá gả bán người con gái. Ngày nay, chế độ hôn nhân là hôn nhân một vợ một chồng, việc dựng vợ gả chồng có vai trò quyết định là cha mẹ, đặc biệt là vai trò của ông cậu. Sự thành hôn của họ được giải quyết bởi sự tương xứng khả năng kinh tế của hai gia đình và quan trọng hơn cả là do “số mệnh”, do tuổi có hợp nhau không? Quan hệ hôn nhân giữa những người cùng dòng họ bị cấm ngặt, nếu có thì phải quá 5 đến 7 đời thì mới lấy nhau được. Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng dòng họ được thực hiện đầy đủ khi một gia đình nào đó có việc cưới xin, ma chay, dựng nhà mới... bằng lao động và tiền của. Mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau trong dòng tộc, làng bản, trong sản xuất và đời sống được mọi thành viên trong cộng đồng coi trọng, kể cả những trường hợp nguy hiểm đến tính mạng.

Đối với người Dao Tiền, ngoài dấu hiệu về tâm, sinh lý, họ có một dấu hiệu rất đặc biệt để đánh dấu sự trưởng thành của các chàng trai - đó là lễ cấp sắc mà các dân tộc khác không có. Người Dao quan niệm, chỉ có những người con trai đã qua lễ cấp sắc mới được coi là người lớn. Người đàn ông nào chưa qua lễ cấp sắc bị coi là trẻ con mặc dù người đó đã lớn tuổi. Người đàn bà nào lấy chồng chưa qua lễ cấp sắc không khác nào lấy trẻ con. Người con trai qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức, biết phân biệt phải trái, mới có đủ tư cách tiên ở thế giới bên kia. Chính vì vậy mà lễ cấp sắc là tập tục truyền thống, là một nghi lễ quan trọng của một đời người nam giới trong cộng đồng người Dao Tiền, điều này trở thành một nguyên tắc tất yếu không thể không trải qua.

Lễ cấp sắc được tiến hành vào độ tuổi trưởng thành của nam giới, cụ thể là từ 15 - 16 tuổi đến 18 - 20 tuổi, là mốc đánh dấu từ trẻ con sang người lớn.

Lễ cấp sắc được tổ chức vào những tháng cuối năm hay đầu năm, vì đó là những tháng nông nhàn, thời gian tiến hành liên tục trong 3 ngày 3 đêm, hay 3 ngày 2 đêm. Lế cấp sắc được diễn ra như một ngày hội lớn, là nơi sinh hoạt văn hóa dân gian, nơi phản ánh tâm tư tình cảm của đồng bào một cách trung thực nhất.

Lễ cấp sắc có nhiều thang bậc khác nhau, Lễ quá tang (lễ ba đèn) là thang bậc đầu tiên bắt buộc tất cả những người đàn ông Dao Tiền phải trải qua. Trong lễ này người thụ lễ được cấp 3 đèn với 36 âm binh. Ở bậc cao hơn là là lễ “Tẩu sai”, lễ này người thụ lễ được cấp 7 đèn và 72 âm binh (đây là những người có khả năng và muốn theo đuổi nghề thầy cúng). Bậc cao nhất là lễ 12 đèn và 120 âm binh. Muốn chuyển từ cấp bậc này sang cấp bậc khác, người thụ lễ phải tổ chức kèm theo một nghi lễ, cấp bậc sau cao hơn cấp bậc trước, người thụ lễ cũng phải có thời gian học tập các sách cúng, học về các tổ chức cơm, rượu mời cả làng đến dự, lễ cúng rất tốn kém.

Trong một gia đình, lễ cấp sắc phải tuân thủ theo quy định, người anh làm lễ cấp sắc trước rồi mới đến người em. Hiện nay, do hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, nên mỗi lần có thể tổ chức làm lễ cấp sắc cho 2 đến 3 người là anh em trong một gia đình hoặc trong dòng họ. Lễ cấp sắc thường được tổ chức tại nhà trưởng họ, kinh phí do bố, mẹ người thụ lễ đứng ra lo liệu, công tác tổ chức do người trưởng họ.

Tổ chức lễ cấp sắc là một việc lớn trong đời người Dao. Thực hiện một lễ cấp sắc đòi hỏi gia đình người thụ lễ phải chuẩn bị rất công phu và tốn kém như: Gạo, thịt, rượu, quần áo, tranh thờ, nhạc cụ truyền thống… thời gian chuẩn bị dài hay ngắn phụ thuộc vào kinh tế mỗi gia đình, có nghi lễ chuẩn bị 5 năm, 10 năm, có khi cả đời người.

Tiến trình làm lễ: Tùy theo từng cấp độ cấp sắc mà số lượng thầy được thỉnh mời có khác nhau, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đi sâu vào lễ “Quá tang”, đây là lễ đơn giản nhất thực hiện trong 1 ngày 2 đêm và cấp 3 đèn, 36 âm binh và chỉ cần 3 thầy làm lễ (1 thầy chính và 2 thầy phụ), các thầy này phải là những người đã được cấp sắc tương đương với người thụ lễ trở lên và phải lớn tuổi hơn người thụ lễ dù chỉ 1 ngày. Ngoài các thầy, trong lễ cấp sắc còn phải mời 3 nam, 3 nữ thiếu niên mặc quần áo dân tộc để hát trong một số nghi lễ. Trước khi đến nhà người thụ lễ, thầy phải vệ sinh thân thể sạch sẽ, cúng tổ tiên để thông báo xin giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị đồ nghề. Trước khi ra cửa phải thắp 3 nén hương, yểm bùa, đọc thần chú để đem quân âm binh đi theo trợ giúp. Dọc đường đến nhà người thụ lễ, mỗi lần qua sông thầy phải dùng gậy tầm xích vớt nước lên đưa vào mồm khấn để trừ ma quỷ. Đến đầu làng người thụ lễ, thầy phải cúng khấn thần làng (thổ địa) với nội dung mong các thần cai quản làng bản cho phép vào làng làm việc, sau đó đốt tiền vàng gửi cho thổ thần. Đến gần nhà người thụ lễ, thầy rút mảnh giấy nhỏ cắt hình đuôi én, trên có vẽ hình quái đản, câu phù chú bằng chữ Nôm Dao, niệm vào đó để thu tà đạo, vong hồn có ý phá rối đám cấp sắc nhốt vào ngục tối.

Các nghi lễ chính:

1. Cúng chấp panh: Tức thông báo cho tổ tiên người thụ lễ biết để tiếp ma và âm binh của các thầy, yêu cầu các ma phù hộ. Không khí được diễn ra hết sức trang nghiêm. Trai gái không được nô đùa, không nói tục, cãi vã, không uống ruợu say, không làm vỡ đồ dùng sinh hoạt. Đồ cúng trong lễ này gồm: Thịt lợn, thịt gà, hương, rượu.

2. Lễ treo tranh (hay còn gọi là lễ thả tranh) các tranh được treo gồm có: Tranh tam thanh, tranh Ngọc Hoàng, tranh tứ phủ công đồng... Thả tranh xong, thầy và người thụ lễ làm lễ “Sính miền” tức mời ma, thánh thần chứng giám buổi lễ, các loại nhạc cụ và các bài múa đồng thời được nổi lên tạo không khí tưng bừng như ngày hội. Tiếp theo, thầy cả ra cửa chính dùng một con dao vẽ xuống đất (giữa cửa chính) hình hỏa đồ để trừ tà ma, sau đó đọc bùa chú và dùng dao đào một lỗ nhỏ giữa hỏa đồ và chôn chữ hỏa xuống để trừ tà, trừ dâm (với ý nghĩa mọi người đến dự lễ không được làm những điều ác, những điều dâm tà, nếu ai có ác ý sẽ bị rơi xuống hỏa đồ này và bị thiêu chết).

3. Lễ khai đàn: Là để khai sáng lễ cấp sắc, răn đe những kẻ có ác ý phản thầy, phản chủ.

4. Lễ đặt tên âm (hay còn gọi là lễ đổi tên). Đây là nghi lễ rất quan trọng, bắt buộc trong đời người con trai Dao. Người Dao có tập tục khi mới sinh chỉ đặt tạm cho có tên để gọi. Khi làm lễ cấp sắc, họ phải đổi tên mới - tên mật. Có tên mật (tên âm) người đó mới được ghi tên vào sổ ma, sổ gia phả dòng họ, tên đó được gọi chính thức suốt đời và được gọi cả ở thế giới bên kia. Người Dao quan niệm, những người không có tên mật coi như: Sống không có ma quản, chết không có hồn. Công việc đặt tên âm cho người thụ lễ do bố mẹ người thụ lễ thực hiện, thầy và trưởng họ chứng kiến.

5. Lễ cấp đèn, hạ đèn và cấp âm binh

6. Lễ cấp đạo sắc: Trong lễ này thầy cấp cho người thụ lễ một bản đạo sắc bằng chữ Nôm Dao ghi lại lai lịch người thụ lễ, nguyên do thụ lễ và các điều răn dạy... Đạo sắc này coi là bằng chứng để người thụ lễ được phép thực hiện các nghi lễ cúng bái và có vị thế trong xã hội người Dao.

7. Lễ cúng Bàn Vương: Được diễn ra vào ngày cuối của lễ cấp sắc, trong lễ này cả người thụ lễ và người dự lễ đều được nghe truyền thuyết, nguồn gốc dân tộc mình. Lễ gần kết thúc, các thầy thỉnh cầu Bàn Vương và các ma tổ tiên phù hộ cho gia chủ, dòng họ gặp mọi điều tốt lành, người thụ lễ khôn ngoan, giúp anh em, họ hàng, làng xóm thực hiện các phong tục tập quán cộng đồng. Cuối cùng là lời căn dặn của các ông thầy với đại ý: Ăn ở phải có đức, lễ phép, hiếu thảo... Thầy còn dạy người thụ lễ biết cách cúng tổ tiên, cách làm ma chay cho bố mẹ...

8. Lễ hội 36 ca khúc: Trong lễ này ba cặp thanh niên nam nữ sẽ hát các ca khúc truyền thống của dân tộc Dao với nhiều thể loại khác nhau như ca ngợi cảnh đẹp quê hương, sự hẹn hò trai gái... cứ mỗi tiết mục họ lại chúc rượu nhau, cuộc vui cứ thế kéo dài. Để tạ ơn thầy và những người đến ca hát, chủ nhà làm bữa cơm mời tất cả cùng ăn uống no say. Lễ cấp sắc kết thúc, mọi người vui vẻ ra về, đối với các chàng trai được cấp sắc thì đây là một bước ngoặt quan trọng để họ trưởng thành hơn, sống có ý nghĩa hơn. Riêng đối với các chàng trai khác lại nuôi mơ ước rằng một ngày nào đó cũng sẽ đến lượt mình được làm lễ vui vẻ như lễ hội này…

Lễ cấp sắc trước kia được tổ chức rất cầu kỳ và kéo dài trong nhiều ngày đêm, nghi lễ rất tốn kém..., thực hiện nếp sống mới, hiện nay lễ cấp sắc đã được đồng bào đơn giản hóa đi rất nhiều mà vẫn mang đậm nét cổ truyền, độc đáo.

Lễ cấp sắc là nét văn hóa độc đáo trong đời sống tâm linh của người Dao Tiền, mang nhiều dấu ấn của đạo giáo. Bên cạnh những giá trị về văn hóa tâm linh và ý nghĩa giáo dục trong một số nghi lễ là những giá trị về nghệ thuật dân gian (âm nhạc và múa), được thể hiện qua những hành động mang tính ước lệ, cách điệu và biểu tượng cao. Vì vậy, đây là những vốn quý cần thiết được bảo tồn.

Nguyễn Hồng Vân

Theo Tạp chí Văn hóa, Thể thao & Du lịch Cao Bằng

Add comment


Security code
Refresh